Làm thế nào để Windows khởi động nhanh hơn
Nhiều bạn thắc mắc là tại sao máy tính của mình cũng có cấu hình tương tự như một máy khác mà khi khởi động phải chờ lâu đến vậy. Việc khởi động máy tính nhanh hay chậm ngoài việc phụ thuộc vào cấu hình phần cứng của máy còn có nhiều các chương trình tự động load mà bạn đã đăng ký khi cài đặt chúng. Quả thực là có nhiều cách để có thể làm cho máy tính của bạn chạy nhanh hơn lúc khởi động và dưới đây chúng tôi xin giới thiệu cho các bạn một số những phương pháp quan trọng.
Giảm nhẹ tải
Một máy tính điển hình tải rất nhiều chương trình mỗi khi chúng khởi động. Mỗi một biểu tượng trong system tray của bạn (vùng gần đồng hồ của máy tính) biểu hiện những ứng dụng tự động chạy khi khởi động máy. Ngoài ra cũng có nhiều chương trình khác cũng có thể tự động chạy trên máy tính mà bạn khó có thể nhận ra chúng từ system tray. Mỗi một ứng dụng tự động load sẽ làm chậm máy tính, càng nhiều ứng dụng này máy tính của bạn càng chậm. Hầu hết chúng tiếp tục chạy một cách lặng lẽ và như vậy có thể cho rằng chúng đang ăn cắp tài nguyên máy tính của bạn.
Trước khi bắt đầu việc loại trừ các chương trình tự động load, bạn phải bảo đảm rằng có thể Undo lại các thay đổi này. Trong Windows XP, chọn Start > All Programs > Accessories > System Tools > System Restore. Chọn Create a restore point, click Next, gọi thời điểm khôi phục (Restore) để lưu lại cấu hình máy trước khi gỡ bỏ chương trình tự động load, chọn Create. Click Close khi đã
Trong Windows Vista, chọn Start > Control Panel > System. Dưới ‘Tasks’ phía bên phải của cửa sổ, click System Protection. Trong hộp System Properties bạn click Create ở phía dưới cửa sổ.
Người dùng XP nên chọn Start > Run, nhập vào msconfig và nhấn <Enter>. (Trong Vista, chọn Start > nhập msconfig vào hộp Search và nhấn <Enter>.) Chọn tab Startup, bạn sẽ thấy một danh sách tất cả chương trình tự động load, mỗi chương tình có một hộp check. Bỏ chọn trong hộp này bạn sẽ không phải load nó khi khởi động.
Chọn các ứng dụng tự động load
Các ứng dụng nào nên để tiếp tục tự động load? Đầu tiên và trên tất cả là các phần mềm chống virus, tường lửa và chương trình bảo mật khác. Rõ ràng các chương trình này làm chậm máy tính của bạn và chúng còn có thể gây ra xung đột nhưng cái giá mà bạn phải trả nếu không có chúng còn cao gấp bội lần.
Nhiều chương trình khác trong danh sách thì tùy thuộc vào nhận xét của bạn. Không cần thiết phải tự hỏi là “Nó có phải chương trình tốt hay không?” mà hãy xem xét đến vấn đề “có cần nó cho tất cả thời gian hay không?” Ví dụ: Tôi cho phép Copernic Desktop Search tự động load bởi vì nó cần để chú dẫn các file dữ liệu của tôi một cách liên tục.
Sau khi bỏ chọn các chương trình không cần thiết để load tự động tại thời điểm khởi động, bạn Click OK và khởi động lại máy tính. Windows sẽ load cùng với một thông báo khá dài thoạt nhìn bạn có thể nghĩ rằng đó là một thông báo lỗi. Bạn chỉ cần check vào hộp check Don’t show this message or launch the System Configuration Utility when Windows starts ở phía dưới của hộp thoại và kích OK.
Làm sạch Windows
Nếu một chương trình tự động load không làm nhanh đáng kể hệ thống của bạn lúc khởi động, bạn nên thử một vài mẹo vặt sau:
Làm sạch Registry. Windows Registry của bạn lớn hơn thì hệ thống khởi động sẽ lâu hơn. Bộ làm sạch Registry ưa thích của tôi là Reg Organizer $30 của ChemTable, nó có thể cho phép soạn thảo Registry và công cụ bảo trì Windows. Nếu bạn không cần đến nhiều thứ như vậy thì có thể sử dụng EasyCleaner của ToniArts.
Sử dụng ít Font hơn. Việc load hàng trăm font hệ thống làm nó tốn thời gian. Nếu bạn có hơn 500 fonts hệ thống trong máy tính thì bạn nên gỡ bỏ bớt. Tiện ích The Font Thing miễn phí của Sue Fisher sẽ giúp bạn giảm bớt kích thước số lượng font xuống.
Thêm RAM. Phần cứng nhanh hơn nghĩa là máy tính của bạn cũng sẽ khởi động nhanh hơn (cùng với cả những thứ khác trong giữa quá trình khởi động và tắt máy). Cách này sẽ không rẻ nhưng là cách hiệu quả để cải thiện hiệu suất phần cứng của bạn.
Bốn bước hướng dẫn để lắp đặt thêm RAM
Việc thêm RAM thường là nầng cấp hiệu quả nhất để bạn có tăng tốc độ máy tính. Các máy tính dù mới cũng sẽ đòi hỏi nhiều RAM hơn chỉ sau vài năm khi bạn sử dụng thêm các phần mềm mới mà vẫn cần đảm bảo tốc độ. Bên cạnh đó các hệ điều hành mới luôn yêu cầu thêm nhiều bộ nhớ. Khi một máy tính không đủ RAM nó sẽ trao đổi luồng dữ liệu với ổ đĩa cứng, điều đó khiến hệ thống của bạn hoạt động chậm chạp.
Dưới đây, chúng tôi chỉ cho bạn cách làm thế nào để chuẩn đoán bộ nhớ tối thiểu và những gì phải thực hiện cho việc nâng cấp RAM.
Làm thế nào để biết được cần bao nhiêu RAM là đủ?
Kiểm tra cách sử dụng RAM của máy tính bằng cách mở Windows Task Manager. Nhấn Ctrl-Alt-Del (người dùng Vista phải click vào Start Task Manager) và click vào Performance tab. Nếu con số bên cạnh ‘Available‘ (hoặc ‘Free‘ trong Vista) dưới phần ‘Physical Memory’ dao động gần 0 thì máy tính của bạn hoạt động rất chậm và nó cần phải thêm RAM.
Vậy bao nhiêu RAM là đủ?
Người dùng Windows XP thông thường sẽ hài lòng với 1GB RAM. Trong bài thí nghiệm của chúng tôi, máy tính này liên quan đến việc xử lý ảnh và sử dụng Nero Express để ghi đĩa CD, nhanh hơn một đến ba lần khi chúng tôi nâng cấp từ 512KB lên 1GB RAM. Những người dùng khác, ở đây chúng tôi đang muốn nói tới những người sử dụng cùng một lúc nhiều chương trình hoặc những người làm việc với video số hoặc các file đồ họa lớn khác sẽ mong muốn ít nhất là 2GB RAM. Nếu bạn đang có ý định nâng cấp máy tính lên Windows Vista thì bạn cũng cần phải có 1GB nhưng chúng tôi khuyên bạn nên sử dụng đến 2GB RAM.
Nên chọn loại RAM nào?
RAM có rất nhiều loại, chúng gồm có DDR, DDR2 và DDR3. Các công nghệ mới thường cho hiệu suất tốt hơn nhưng hầu hết các bo mạch chủ chỉ chấp nhận một loại RAM. Hãy kiểm tra máy tính của bạn để tìm ra loại RAM thiết và chúng được cài đặt như thế nào. Các hãng RAM như Crucial và Kingston thường có công cụ trực tuyến để giúp bạn phân biệt được đúng RAM cho nhiều máy tính và bo mạch chủ. Hầu hết các máy tính được nâng cấp ngày nay đang sử dụng bộ nhớ dual-channel, chính vì vậy bạn phải cài đặt thành các cặp thì mới cho hiệu suất cao. Vì vậy việc thêm hai module 512MB thay vì một module 1GB là tốt hơn.
Việc tốn thêm một vài dollar để mua RAM của các hãng sản xuất tin cậy như Crucial hay Kingston là thực sự quan trọng.
Bạn cần những gì khi thêm RAM?
Các công cụ: Các cửa hàng máy tính địa phương sẽ có một công cụ không quá 15$ để giúp bạn tránh việc tĩnh điện.
Tài liệu: Nhiều bo mạch chủ yêu cầu các cặp module được định vị trên các rãnh cụ thể hoặc cặp socket RAM. Hãy tham khảo trong tài liệu của bạn trước khi tiến hành nâng cấp.
Lắp đặt một RAM như thế nào?
1. Tháo máy tính và mở CASE ra. Đặt nó sao cho bạn có thể cảm thấy thoải mái để có thể tháo gỡ được những thứ bên trong CASE. Nếu nâng cấp RAM cho một máy tính xách tay bạn nên quan sát panel ở phần dưới của máy được bảo vệ bởi một hoặc hai ốc và cẩn thận tháo panel đó.
2. Bảo vệ các mạch điện nhỏ tinh tế bên trong máy tính khỏi việc tĩnh điện bằng cách tiếp đất. Nói chung bạn nên đi một đôi dép để cách đất bản thân bạn khi bạn chạm vào CASE hay các thành phần bên trong.
3. Kiểm tra tài liệu của máy tính để phân định ra các socket RAM chính xác để đưa vào. Tháo bất kỳ vật cản trở nào như dây cáp nguồn hoặc quạt tản nhiệt trên bo mạch chủ.
3. Nếu cần tháo một RAM đã có trên main, bạn chỉ cần nhẹ nhành đẩy hai cái kẹp ở hai bên đầu. Thanh RAM khi đó sẽ bật lên và bạn dễ dàng nhấc chúng ra ngoài được.
5. Lấy các thanh RAM mới ra khỏi vỏ bọc và đặt chúng trên vỏ bọc. Một chi tiết khi cầm thanh RAM đó là bạn nên kẹp giữ nó ở các cạnh; tránh việc chạm vào các con chíp hoặc mạch điện trên mặt thanh RAM.
6. Để lắp đặt một thanh RAM, bạn mở hai chốt hai bên của mỗi một socket bằng cách ấn nhẹ chúng xuống. Sau đó bạn căm thanh RAM của bạn theo đúng khe, khi bạn cắm thì hai lẫy kẹp bên ngoài lúc này nâng lên và kẹp chặt và giữ thanh RAM vững chắc.
Những người dùng máy tính xách tay nên quay mặt về phía dưới của socket bộ nhớ, cẩn thận với cái khía hình chữ V trên thanh RAM với socket của nó. Bạn đẩy thanh RAM vào một cách cẩn thận cho tới khi các lẫy giữ đã định vị nó an toàn.
7. Lắp ráp lại máy tính, bật nguồn và nhớ nhìn trên màn hình trong suốt quá trình nó khởi động để xác nhận rằng hệ thống của bạn đã nhận ra RAM mới. Nếu nó không nhận được, bạn hãy khởi động lại máy tính, vào chương trình CMOS và kiểm tra xem máy tính của bạn có nhận ra bộ nhớ mới không. (Để thực hiện điều này, bạn nhấn phím Del hoặc F1 trong quá trình khởi động lại máy.) Nếu bộ nhớ mới vẫn chưa nhận, bạn nên thoát chương trình setup, tắt máy tính và mở CASE, cắm lại các thanh RAM là xong .
Các thiết lập TCP/IP nâng cao trong Windows 2003
Trong bài này chúng tôi sẽ cung cấp nội dung cụ thể về các thiết lập nâng cao trong hộp thoại Advanced TCP/IP settings và từng tab tương ứng của nó. Hy vọng sau bài viết này bạn có thể hiểu chi tiết hơn mục đích của từng tuỳ chọn và cách cấu hình nó như thế nào.
Windows 2003 từng ra mắt với một số thành phần mới cho TCP/IP như: hỗ trợ IP version 6, dò tìm tự động giá trị metric Interface, Gateway và tab cấu hình Alternate cho phép đặc tả địa chỉ IP kế tiếp dùng khi thiếu server DHCP (trước khi APIPA tham gia).
Hộp thoại Advanced TCP/IP cho phép bạn cấu hình các thiết lập liên quan đến DNS, WINS và mô tả nhiều địa chỉ IP, gateway (vẫn có thể được dùng dù bạn chỉ có một card mạng trên máy).
Để mở hộp thoại Advanced TCP/IP Settings, đơn giản bạn chỉ cần kích phải chuột lên kết nối từ thư mục Network Connections. Mở hộp thoại Properties của kết nối được chọn, xem danh sách các thuộc tính hiện ra. Sau đó di chuột đến Internet Protocol (TCP/IP) và kích vào Properties. Hộp thoại Internet Protocol (TCP/IP) Properties xuất hiện, kích vào Advanced. Ở phần trên của Advanced TCP/IP Settings bạn sẽ thấy có 4 tab:
IP Settings: cho phép bổ sung thêm địa chỉ IP hoặc thay đổi thuộc tính định tuyến của card mạng.
DNS: cho phép thiết lập kết nối TCP/IP sử dụng hệ thống tên miền (DNS).
WINS: cho phép thiết lập kết nối TCP/IP dùng WINS cho các máy tính không thể truy cập Active Directory.
Options: cho phép thiết lập bộ lọc TCP/IP (TCP/IP Filtering) và mô tả các cổng sẽ được dùng cho truyền thông TCP/IP.
Tab IP Settings
Hộp IP Addresses ở đầu cho phép bạn gán địa chỉ IP bổ sung cho card mạng đơn. Nó rất hữu ích nếu bạn sở hữu nhiều website trên cùng một web server và muốn cung cấp cho chúng từng địa chỉ IP riêng.
Ví dụ, đơn giản bạn chỉ cần kích vào nút Add để bổ sung thêm địa chỉ IP và địa chỉ Subnet Mask. Kích vào Edit để chỉnh sửa đối tượng đã chọn và kích vào Remove nếu muốn xoá chúng.

Hình 1: IP Settings Tab
Hộp Default gateways ở giữa được dùng trong việc kết nối mạng sử dụng đa cổng vào mặc định. Kích nút Add để bổ sung thêm Default gateway và gán cho nó giá trị Metric. Metric là chi phí của quãng đường mô tả. “Chi phí” có thể là tốc độ phản hồi, độ tin cậy và số bước nhảy. Quá trình định tuyến sẽ sử dụng giá trị metric thấp nhất. Vì thế nếu bạn thiết lập hai cổng vào mặc định, một có giá trị metric là 10, còn một là 20, cổng vào có metric 10 sẽ được chọn đầu tiên. Giá trị metric tự động có ý nghĩa là quá trình định tuyến đường đi đến cổng vào mặc định sẽ được tính toán tự động và quá trình nhanh nhất sẽ được chọn.
Chú ý: Nếu bạn mở cửa sổ lệnh Command Promp và gõ “route print”, sẽ không có gì được đưa ra. Bảng IP Routing được thể hiện với danh sách giá trị metric như là một trong các thuộc tính của từng địa chỉ IP và các kết hợp của nó.
Các nút Edit và Remove trong hộp Default gateways có chức năng giống hệt hộp IP address (đã được giải thích ở trên).
Phần cuối của tab Settings cho phép bạn thiết lập lựa chọn hoặc là tự gán một giá trị metric cho Interface, hoặc là để nó được gán tự động. Mặc định, tuỳ chọn này được đánh dấu là tự gán. Bỏ dấu đi nếu bạn muốn nhập giá trị metric cho Interface theo ý mình.
Tab DNS
Thành phần “DNS server addresses, in order of use box” ở đầu tab DNS đưa ra danh sách các địa chỉ IP của DNS Server, được dùng để cung cấp giải pháp về tên. Các server này được sắp xếp theo thứ tự và quyền ưu tiên. Nếu một server không hoạt động, nó sẽ bị chuyển tới cuối hàng. Để thiết lập thứ tự cho địa chỉ IP, chọn IP Address và ấn vào nút lên, xuống ở bên tay phải.
Một điểm quan trọng cần chú ý là TCP/IP sẽ không chuyển lên server tiếp theo nếu nó cần dừng lại để xử lý yêu cầu. Nó chỉ thực hiện điều này nếu server đầu tiên không hoạt động (có thể đang được ngừng lại để bảo trì, sửa chữa hoặc đang ở giữa quá trình khởi động lại).
“Append primary and connection specific DNS suffixes”, “Append parent suffixes of the primary DNS suffix” được để mặc định. Các tuỳ chọn này dùng để đưa ra gợi ý cho tên chưa đạt tiêu chuẩn.
Tuỳ chọn đầu tiên sẽ đưa ra các tên chưa đủ điều kiện dùng domain cha. Ví dụ, nếu bạn có một máy tính được đặt tên là “andrew” và domain cha là “ztabona.com”, gợi ý đề nghị là “andrew.ztabona.com”. Truy vấn sẽ gặp lỗi nếu andrew.ztabona.com không tồn tại trong domain cha. Tuỳ chọn thứ hai đưa ra giải pháp cho tên chưa đạt điều kiện dùng cấp domain cha-con. Truy vấn DNS sẽ chuyển lên một cấp tên miền nếu nó gặp lỗi ở mức hiện tại. Nếu mức tiếp theo tiếp tục bị lỗi, quá trình được tự động chuyển lên đến khi gặp mức gốc mới.
Khi môi trường máy khách có dạng đa tên miền, bạn có thể thêm một nhóm domain vào danh sách “Append these DNS suffixes” theo một thứ tự nhất định. Chúng sẽ được tìm kiếm như là một phần trong truy vấn DNS, thay vì phải dùng domain cha.

Hình 2
Hộp textbox ở bên phải ô “DNS suffix for this connection” được dùng để thiết lập DNS suffix. để sẽ ghi đè lên bất cứ thiết lập nào đã được tạo trước đó cho kết nối.
Đăng ký địa chỉ cho kết nối trong DNS tức là đăng ký toàn bộ địa chỉ IP của kết nối trong DNS dưới FQDN của máy tính. Dùng DNS suffix của kết nối trong phần đăng ký DNS sẽ đăng ký toàn bộ địa chỉ IP cho kết nối này trong DNS dưới domain cha.
Tab WINS
Tab WINS được dùng để mô tả các thiết lập liên quan đến WINS như danh sách server WINS dùng cho tên NETBIOS để xử lý địa chỉ IP, file LMHOSTS được dùng như một phương tiện xen kẽ để tra tìm và các thiết lập NETBIOS cho kết nối mạng.
Các máy sử dụng hệ điều hành và ứng dụng trước Windowns 2000 thường dùng NETBIOS để đưa ra giải pháp tên IP. Nếu bạn có một máy Windowns 2003 hoạt động như một file hay server print (máy chủ) và muốn các máy khách khác hết nối với nó, bạn phải dùng đến NETBIOS. Thông thường mạng bây giờ ít khi có các máy dùng Windowns trước 2000. Nhưng nếu mạng của bạn có, bạn nên ngắt NETBIOS qua IP. Làm như vậy sẽ tiết kiệm được dung lượng bộ nhớ, mức sử dụng CPU và giải phóng tài nguyên.
Dùng tuỳ chọn “WINS addresses, in order of use box” ở phần trên để bổ sung thêm server WINS bạn muốn hệ thống sử dụng cho IP nhằm đưa ra các tên hợp lệ. Ấn nút Add, một hộp thoại nhỏ xuất hiện, chờ bạn nhập địa chỉ IP của WINS server vào. Sử dụng các nút Edit hoặc Remove để chỉnh sửa hoặc xoá một đối tượng đã lựa chọn. Nếu bạn có nhiều hơn một WINS server trong danh sách, sử dụng phím lên xuống để chỉnh mức ưu tiên server được truy vấn đầu tiên. Nếu một server không sử dụng được, server kế tiếp theo trong danh sách sẽ được dùng và cứ liên tục như vậy.

Hình 3
Đánh dấu chọn vào hộp checkbox “Enable LMHOSTS lookup” để phòng trường hợp nếu WINS không thể đưa ra một tên thì file LMHOSTS cục bộ sẽ được dùng. File LMHOSTS có thể tìm thấy trong \WINDOWS\system32\drivers\etc. Tên đầy đủ của nó là “lmhosts.sam” và có thể thay đổi trong một trình soạn thảo văn bản. Các điểm vào được đặt ở cuối file. Khi sử dụng, địa chỉ IP trên danh sách được ghép nối với từng hostname. Nếu đã có một file LMHOSTS trên máy khác trong mạng, bạn có thể dùng nút “Import LMHOSTS” để chọn file này và nhập nó vào máy cục bộ của mình.
Các thiết lập NETBIOS ở cuối cho phép bạn định nghĩa một cách rõ ràng cách thức NETBIOS sẽ được dùng trên hệ thống. Chọn Default nếu muốn DHCP server gán thiết lập NETBIOS mặc định. Chọn “Enable NETBIOS over TCP/IP” nếu bạn đang sử dụng địa chỉ IP tĩnh hoặc DHCP Server không cung cấp thiết lập NETBIOS. Chọn “Disable NETBIOS over TCP/IP” nếu bạn không muốn dùng NETBIOS hay WINS trên mạng.
Tab Options (TCP/IP Filtering)
Tab Options cho phép bạn cấu hình các thiết lập TCP/IP Filtering (chức năng lọc TCP/IP). Bạn có thể định nghĩa các cổng hay giao thức được phép dùng. Đánh dấu chọn vào ô “Permit Only” và dùng nút Add để thêm các cổng TCP/UDP hoặc một bản giao thức vào danh sách tương ứng. Nếu bạn thiết lập chỉ cho phép hoạt động giao thông mạng diễn ra trong tập hợp cổng được định nghĩa, tất cả lưu lượng khác sẽ bị xoá.

Hình 4
Kết luận
Bài này cung cấp cho bạn một số kiến thức tổng quan về các thiết lập nâng cao Advanced TCP/IP trong Windowns 2003. Biết về từng tuỳ chọn và cách sử dụng chúng là phần bổ sung tuyệt vời khi cấu hình truyền thông mạng. Hy vọng bài này giúp ích được nhiều cho các bạn.
QTM
Thủ thuật tiết kiệm điện cho máy tính
Cập nhật: Layout.datetime.display(‘2006-09-04 07:17:00′, ‘%date %H:%m’); 4/9/2006 07:9
Tủ lạnh, máy giặt và nhiều thiết bị điện tử gia dụng khác không phải là cỗ máy “ngốn điện” duy nhất trong gia đình bạn. Máy tính và các thiết bị ngoại vi đi kèm cũng góp phần đáng kể trong hóa đơn tiền điện cao ngất hàng tháng. Trên thực tế, một máy tính (và màn hình) có thể tiêu tốn lượng điện năng xấp xỉ một chiếc tủ lạnh và đây có thể xem là lý do cần thiết để xem xét những giải pháp tiết kiệm điện cho máy tính.
Ảnh minh hoạ
Theo dõi điện năng tiêu thụ
Một máy tính thông thường loại 150 watt sẽ tiêu thụ 876 kWh điện mỗi năm. Tại Việt Nam, nếu ước tính giá điện trung bình khoảng 1.000 đồng/kWh, có nghĩa là bạn phải chi 876.000 đồng/năm cho máy tính đó.
Ở chế độ chờ (standby), máy tính cũng tiêu tốn một lượng điện năng xấp xỉ như khi đang được sử dụng. Bằng cách tắt máy tính và các ngoại vi khi không còn sử dụng, đồng thời khai thác biện pháp quản lý điện năng khi mở máy, bạn có thể cắt giảm đáng kể chi phí. Nếu sử dụng máy tính 6 giờ mỗi ngày, bạn sẽ tiết kiệm được 75% tiền điện hoặc cao hơn. Thậm chí khi máy tính đang sử dụng là máy chủ, bạn cũng có thể tiết kiệm điện bằng cách tắt màn hình.
Máy in laser và máy fax cũng không là ngoại lệ. Máy in laser đa chức năng và máy fax tiêu thụ đến 300 watt khi in, 85 watt ở chế độ chờ và 10 watt khi chạy không tải (idle). Để giảm chi phí sử dụng điện, bạn nên nối tất cả thiết bị ngoại vi vào một ổ cắm điện và ngắt điện cấp cho ổ cắm này khi tắt máy tính. Để an toàn, người dùng có thể sử dụng một bộ lưu điện (UPS) cho máy tính.
Ngoài ra, bằng cách tắt modem và router băng rộng khi không sử dụng sẽ giúp mạng nội bộ của bạn an toàn hơn. Một số ổ cắm điện có tính năng định giờ tắt nguồn và bạn cần lưu ý “không được” sử dụng thiết bị loại này cho máy tính, thiết bị lưu trữ gắn ngoài hay bất kỳ thiết bị nào có thể gây mất dữ liệu khi bị tắt điện đột ngột.
Cuối cùng, hãy ngắt điện các bộ sạc dùng cho PDA, máy nghe nhạc, camera số và các thiết bị khác khi không có nhu cầu sử dụng, hoặc dùng một ổ cắm có khả năng định giờ tắt nguồn để ngắt điện khỏi chúng. Tuy nhiên, loại ổ cắm này cũng tiêu thụ đến 5 watt mỗi giờ ngay cả khi bạn không cắm bất kỳ thiết bị nào vào chúng.
Cấu hình máy tính
Để thực hiện các cài đặt quản lý điện cho máy tính, với Windows XP hoặc Windows 2000, nhấn phải chuột lên màn hình Windows và chọn Properties.Screen Saver. Sau đó nhấn nút Power ở bên phải của biểu tượng Energy Star, và chọn nhãn Power Schemes trong hộp thoại Power Options Properties. Đối với máy tính để bàn, bạn chọn Home/Office Desk ở danh sách thả xuống Power schemes (thường là mặc định). Ở mục Turn off monitor và Turn off hardisk, bạn hãy chọn thời gian theo ý mình.
Ngoài ra, tùy chọn Stanby và Hibernate bên dưới nhãn Power Shemes cũng rất hữu ích trong việc cắt giảm lượng điện năng tiêu thụ trong máy tính. Bạn xem lại bài viết “Thiết lập máy tính hoạt động ở chế độ chờ” (ID: A0507_131) để biết những ưu điểm và khuyết điểm của chế độ chờ (Standby) và ngủ đông (Hibernate).
Để đạt được chuẩn tiết kiệm điện Energy Star, một máy tính phải tiêu thụ điện ít hơn 70% so với máy tính không có tính năng quản lý điện, và sử dụng dưới 15 watt khi hoạt động ở các chế độ không làm việc (inactive) khác. Một màn hình chuẩn Energy Star phải tiêu thụ điện ít hơn 60% so với loại màn hình tiêu chuẩn, và sử dụng từ 2 hoặc 4 watt khi tắt hoặc ở chế độ chờ.Theo hãng ViewSonic, một màn hình LCD sử dụng khoảng 1/3 công suất điện của màn hình CRT có cùng kích thước. Bạn cũng có thể tiết kiệm điện bằng cách sử dụng máy tính xách tay thay cho máy tính để bàn do máy tính xách tay chỉ sử dụng khoảng 1/4 công suất của máy tính để bàn; cũng như chuyển sang sử dụng máy in phun thay cho máy in laser.
VnMedia
Thêm SafeMode vào menu Boot
Như bạn biết, chế độ SafeMode rất cần thiết cho nhu cầu chỉnh sửa hệ thống trước những lỗi về phần cứng và mềm. Khi vào chế độ này, hầu hết các ứng dụng về phần cứng đều được ngắt để cho bạn nắm bắt lỗi hệ thống mà khắc phục.
Mỗi lần vào SafeMode, có một bất tiện là bạn phải nhấn Phím F8 để chọn chế độ khởi động từ menu Boot. Một bất tiện khi sử dụng, chưa kể việc phải chọn nhấn F8 đúng thời điểm. Với thủ thuật nhỏ sau, bạn sẽ thêm SafeMode vào menu khởi động Windows để có thể sử dụng khi cần thiết.
Đầu tiên, bạn click phải vào icon My Computer và chọn Properties. Sau đó chọn vào Advanded. Trong phần StartUp and Recovery, bạn chọn Settings để thiết lập.
Tại khung thiết lập, bạn nhấn chọn Edit để thêm SafeMode vào menu Boot thông qua việc chỉnh sửa tập tin Boot.ini.

Khi tập tin Boot.ini đã được mở, bạn thêm vào dòng lệnh sau multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOWS=”Safe Mode” /safeboot:minimal /sos /bootlog.
Lưu ý: bạn có thể không cần type y hệt như dòng lệnh trên, bạn có thể sao chép từ câu lệnh multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(1)\WINDOWS=”Microsoft Windows XP Professional” /noexecute=optin /fastdetect (mặc định luôn có) và paste vào dòng bên dưới và thay đổi WINDOWS=”Microsoft Windows XP Professional” thành WINDOWS=”Safe Mode” sau đó thêm vào /safeboot:minimal /sos /bootlog để hoàn tất.
Như vậy tập tin Boot.ini của bạn sẽ có định dạng sau.

Sau đó bạn lưu các thiết lập lại thông qua menu File > Save trên notepad và đóng notepad lại.
Bây giờ, bạn chọn thời gian khởi động từ 30s xuống còn 10s hay nhỏ hơn nếu cần thiết trong phần Time to display list of operating systems. Nhấn OK 2 lần để quay lại Windows.
Bạn khởi động lại máy tính sẽ thấy menu Boot giờ đã thay đổi. Sẽ có thêm menu SafeMode nằm dưới menu Windows XP Professional. Việc paste dòng lệnh SafeMode vào bên dưới dòng lệnh có sẵn nhằm mục đích chọn chế độ SafeMode như là một option thì khởi động. Nếu bạn không cần vào chế độ SafeMode thì sau thời gian 30s (theo mặc định hoặc theo tùy chọn thiết lập của bạn bên trên), hệ thống sẽ vào thẳng Windows mà không vào SafeMode.
|
Trang trí blog bằng album, video |
||
Picasa là trình quản lý hình ảnh trên máy tính của bạn, có những chức năng và cách hoạt động giống với trình ACDSee hay Fire Graphic nhưng Picasa được cung cấp hoàn toàn miễn phí. Blogger là dịch vụ cho phép người dùng tạo blog miễn phí có số lượng người dùng đông nhất hiện nay. Cả Picasa và Blogger đều là 2 dịch vụ được Google thâu tóm và tiếp tục phát triển thêm các phiên bản mới nhiều chức năng hơn. Picasa Web Album kết hợp với Blogger của Google tương tự như Flickr kết hợp với Blog 360 của Yahoo. Trước tiên, bạn cần có một tài khoản Google để sử dụng Picasa Web Album, có thể đăng ký miễn phí tại đây. Tiếp theo, đăng nhập với tài khoản đã có, trang sẽ chuyển bạn đến phần điều lệ sử dụng, nhấn “Accept” để tiếp tục. Giao diện chính của Picasa Web Album sẽ xuất hiện. Tại trang chủ bạn sẽ được hướng dẫn 3 bước đơn giản để tạo 1 album ảnh với Picasa: 1. Mở trình Picasa2 trên máy tính của bạn, tìm đến tập tin ảnh cần đưa vào album. Sau đó phải chuột, chọn “Upload to Web Album”. Picasa2 sẽ yêu cầu bạn đăng nhập vào tài khoản Google của mình (bạn cũng có thể dùng ngay tài khoản Gmail) để sử dụng chức năng này và yêu cầu bạn phải có kết nối Internet. 2. Sau khi đăng nhập, Picasa2 sẽ kết nối và xuất hiện hộp thoại yêu cầu tạo Web Album với các thông số: Album Title (Tiêu đề album – bắt buộc phải có), Description (Mô tả), Place Taken (Nơi lấy hay chụp ảnh), Upload Setting (Phần này bạn phải thiết lập các tùy chọn về chất lượng ảnh kèm theo tốc độ tải lên. Chúng ảnh hưởng tương tác với nhau). Ở phần Visibility sẽ có 2 tùy chọn là Public (cho phép tất cả mọi người đều có thể xem album tại địa chỉ http://picasaweb.google.com/tentaikhoan) và Unlisted (Chỉ dành cho những người mà bạn chia sẻ). Dung lượng cho phép của mỗi tài khoản sẽ là 250 MB. Nhấn OK để tiến hành tải hình ảnh lên máy chủ Google. Bạn cũng có thể dùng chức năng tạo Album ngay trên website của Google với công nghệ Ajax. Tuy nhiên, việc upload hình ảnh lên máy chủ sẽ không thuận tiện bằng sử dụng ngay trình Picasa2 khi số lượng hình ảnh nhiều hơn 2. 3. Sau khi tạo xong album và upload hình ảnh, ta có thể quản lý ngay trên website Google với Picasa Web Album. Những tính năng như: - Edit Album Properties: hiệu chỉnh lại thông tin của Album như tiêu đề, mô tả … Tải Video lên Album Cách tổ chức hình ảnh, hiệu chỉnh nhãn của ảnh hay tạo trình diễn Slideshow đều rất dễ dàng qua cú nhấn chuột. Ngoài ra, ta cũng có thể tải video clip có chuẩn định dạng như: avi, asf, Quicktime (mov), Windows Media (wmv), mpg, mpeg, mp4, ram và mod lên Picasa Web Album bằng cách sau: 1. Mở phiên bản mới nhất Picasa2 2.6.0, sau đó chọn từng tập tin video rồi nhấn vào nút “Hold” ở thanh công cụ bên dưới của Picasa2. Những tập tin video được chọn sẽ hiển thị trong khay Photo phía dưới bên trái. 2. Cũng ở thanh công cụ, nhấn “Web Album”. Bạn nhớ là phải đăng nhập tài khoản với Picasa2 theo bước ở trên đã hướng dẫn. 3. Chọn album bạn muốn tải video vào hoặc tạo mới album rồi tiếp tục. 4. Trình “Upload Manager” sẽ hiển thị trạng thái upload. Sau khi upload xong, bạn có thể nhấn “View Online” để xem lại album của mình. Tuy nhiên, việc xem lại đòi hỏi bạn phải cài đặt Adobe Flash Player 7.0 trở lên trên máy. Tuy nhiên, yêu cầu của việc upload tập tin video lên Picasa Web Album là: tập tin phải có tốc độ trên 12fps, dung lượng không được vượt quá 100MB. Xem chi tiết tại đây. Để chia sẻ album với bạn bè và người thân, bạn chọn vào “Share Album” ở góc phải trên cùng ở giao diện web Picasa Web Album để mời người thân xem album hoặc video của mình. Với Picasa Web Album, chắc chắn các blogger sẽ có thêm một phương thức tạo cho blog của mình thêm sinh động với cả hình ảnh lẫn video. |
|
Chế ngự các phiền toái trong Windows top.document.title = ‘TGVT – ‘+’Chế ngự các phiền toái trong Windows’; |
||||||||||||
![]() |
||||||||||||
|
Microsoft càng “cải tiến” Windows thì hệ điều hành này ngày càng có nhiều vấn đề. Bài viết giới thiệu 8 thủ thuật có khả năng nhanh chóng khắc phục các sự cố thường xảy ra trong Windows XP và 2000. HÃY GIỮ TẬP TRUNG Các ứng dụng “cướp quyền” điều khiển máy tính có thể đem đến nhiều phiền toái hơn bạn nghĩ, vì sẽ rất mạo hiểm nếu hộp thoại này yêu cầu thực hiện một tác vụ nguy hiểm và người dùng vô tình ấn phím hoặc gõ y (“yes”: đồng ý) trước khi nhìn thấy câu hỏi. Bạn cũng có thể bỏ qua nhắc nhở về một lịch công việc quan trọng mà không hề nhận ra. Cách khắc phục: Hiện tại, không có biện pháp nào có khả năng ngăn ngừa sự cố này, nhưng cách sau có thể giúp bạn duy trì quyền ưu tiên cho các ứng dụng của mình trong Windows XP/2000.
Nếu tình huống trên chưa lần nào xảy ra trong hệ thống của bạn, hãy tải về và cài đặt tiện ích Tweak UI miễn phí của Microsoft (find.pcworld.com/54026). Trong Windows XP, bạn mở Tweak UI (bằng cách nhấn chuột lên biểu tượng của tiện ích này trong trình đơn Start hoặc bằng cách chọn Start.Run, gõ vào lệnh tweakui, và ấn ). Sau đó, trong khung cây bên trái, tìm và di chuyển đến mục General.Focus. Trong Windows 2000, bạn nhấn đúp lên biểu tượng Tweak UI trong Control Panel, chọn nhãn General. Với cả hai phiên bản Windows, bạn phải kiểm tra để bảo đảm mục “Prevent applications from stealing focus” đã được đánh dấu chọn (Hình 1). Bạn cũng có thể chỉ định nút ấn trên thanh tác vụ có chớp sáng hay không (và số lần chớp) khi có tiện ích khác chiếm quyền ưu tiên để báo cho bạn biết. Để kết thúc, nhấn OK. Ngoài ra, vài thiết lập của Tweak UI sẽ trở lại như cũ khi một chương trình sau đó có thực hiện thay đổi Registry. Để bảo đảm việc cố định quyền ưu tiên cho ứng dụng luôn hiệu quả mỗi khi khởi động Windows, bạn chạy Notepad hoặc một tiện ích soạn thảo văn bản nào đó, sau đó nhập vào nội dung sau: Windows Registry Edition Version 5.00 [HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop] “Foreground LockTimeout”=dword:00030d40 Nhập xong, chọn File.Save As và lưu tập tin với tên có phần mở rộng là .reg (ví dụ như focus.reg). Tiếp theo, bạn chọn Start.Programs (hoặc All Programs), nhấn phải chuột vào trình đơn Startup và chọn Open. Trong một vùng trống bất kỳ của thư mục Startup, bạn nhấn phải chuột và chọn New.Shortcut. Trong wizard hướng dẫn Create Shorcut, bạn chọn tập tin .reg được tạo ra ở bước trên rồi nhấn OK. Hãy nhớ đặt dấu ngoặc kép (“) vào trước và sau đường dẫn đến tập tin vừa chọn, sau đó ấn phím . Tiếp tục, bổ sung nội dung regedit.exe /s và theo sau đó là một khoảng cách vào trước dấu ngoặc kép đầu tiên. Khi thực hiện xong, lệnh cuối cùng sẽ là regedit.exe /s “c:\Registry files\focus.reg” (đường dẫn riêng của bạn có thể khác). Nhấn Next, đặt tên cho biểu tượng shortcut này rồi nhấn Finish. Từ đây trở đi, bất cứ lúc nào máy khởi động, shortcut này sẽ đưa cài đặt chống mất quyền ưu tiên vào hệ thống. Đáng tiếc, giải pháp này không thể khắc phục mọi trường hợp xảy ra hiện tượng mất quyền điều khiển hệ thống. Nếu phát hiện một tiện ích nào đó thường xuyên chiếm quyền thì bạn hãy cân nhắc đến việc thay thế một tiện ích khác có tính năng tương đương. CHẶN POP-UP Triệu chứng: Bạn cảm thấy “bực mình” vì một quả bóng tròn kèm chữ thường xuyên bật ra từ khay hệ thống trên thanh tác vụ Windows XP để nhắc nhở một bản vá (hay cập nhật) mới đã sẵn sàng để tải về từ trang web của Microsoft hoặc cung cấp những thông tin không mấy quan trọng khác. Cách khắc phục: Tweak UI có thể giải quyết phiền toái này. Trước hết, chạy tiện ích Tweak UI và chọn mục Taskbar and Start menu trong khung cửa sổ bên trái. Tiếp đến, bỏ đánh dấu chọn mục Enable ballon tips ở cửa sổ bên phải và sau cùng là nhấn OK. TĂNG LỰC ỨNG DỤNG
Triệu chứng: Sẽ có lúc tiện ích mà bạn đang sử dụng trở nên hoạt động “ì ạch” do các ứng dụng không quan trọng khác hay các chương trình hoạt động ở chế độ nền đã chiếm dụng gần hết tài nguyên của Windows. Cách khắc phục: Trong Windows XP, bạn có thể cung cấp nhiều tài nguyên hơn cho một chương trình cụ thể bằng cách thay đổi độ ưu tiên của ứng dụng đó thông qua công cụ Task Manager. Bạn nhấn phải lên thanh tác vụ rồi chọn Task Manager. Chọn nhãn Processes và nhấn phải chuột lên tập tin thực thi tương ứng với ứng dụng đang “khát” tài nguyên. Nhấn Set Priority, rồi chọn mức ưu tiên cao hơn – như AboveNormal hay High chẳng hạn (Hình 2). Khi thông tin cảnh báo xuất hiện, nhấn Yes. Cũng xin lưu ý, việc thay đổi mức ưu tiên của một quá trình (mà cụ thể hơn là ứng dụng) sẽ gây ảnh hưởng đến tốc độ xử lý của các quá trình khác. Ví dụ, chọn mức độ ưu tiên Realtime sẽ thiết lập quyền ưu tiên cao nhất và điều này có thể làm cho những ứng dụng còn lại trong hệ thống trở nên “chết đứng”, tốt nhất không nên chọn mức độ này. Trừ trường hợp, nếu đang gặp trục trặc trong việc ghi dữ liệu lên đĩa CD thì bạn cần tăng độ ưu tiên cho phần mềm ghi CD của mình. Và nếu có một ứng dụng dạng chạy nền nào đang xử lý một số công việc không mấy quan trọng, bạn có thể cân nhắc để thiết lập cho ứng dụng này một mức ưu tiên thấp hơn. Bạn cũng nên nhớ rằng những thay đổi này sẽ chỉ được áp dụng cho phiên làm việc hiện tại và mọi thứ sẽ trở về trạng thái cũ vào lần khởi động Windows kế tiếp. Để xem cùng lúc mức độ ưu tiên của tất cả quá trình đang chạy trong hệ thống, bạn chọn trình đơnView.Select Colums trong cửa sổ Task Manager. Đánh dấu chọn Base Priority và nhấn OK. XEM CHI TIẾT THEO Ý RIÊNG
Triệu chứng: Tùy chọn Details trong tính năng hiển thị của tiện ích Windows Explorer (chọn trình đơn View.Details) sẽ liệt kê nhiều thông tin về các tập tin của bạn, nhưng đôi khi bạn phải kéo thanh cuộn ngang qua lại hoặc xem những thông tin mà bạn không hề muốn biết. Cách khắc phục: Để Windows Explorer hiển thị đúng những thông tin cần thiết, bạn nhấn phải chuột lên bất kỳ cột thông tin nào và bỏ chọn khoản mục không cần thiết (cũng như đánh dấu chọn những khoản mục cần hiển thị). Ngoài ra, bạn có thể chọn More để xem các tùy chọn bổ sung. Để sắp xếp thứ tự các cột, bạn hãy kéo (drag) tiêu đề một cột (ví dụ Date Modified) về phía phải hoặc trái rồi thả cột này lên đường biên giữa các cột. Muốn thu giảm kích thước (resize) cho một cột đơn lẻ, bạn nhấn đúp chuột lên đường biên phải của cột đó. Còn muốn cùng lúc resize cho tất cả các cột để phù hợp với cửa sổ thư mục hay cửa sổ tiện ích Explorer, bạn ấn tổ hợp phím -+ trên bàn phím số. LOẠI BỎ RÁC TRONG THƯ MỤC Triệu chứng: Khi mở một thư mục ở chế độ hiển thị hình thu nhỏ (thumbnails), Windows XP sẽ tạo một tập tin có tên là Thumbs.db trong thư mục đó để cất giữ các hình thu nhỏ này, giúp người dùng xem lại chúng nhanh hơn ở những lần sau. Bạn sẽ không thấy được tập tin này trừ khi máy tính của bạn được thiết lập để hiển thị các tập tin ẩn (trong Windows Explorer hay cửa sổ thư mục bất kỳ, chọn Tools.Folder Options, ở thẻ View, đánh dấu tùy chọn Show hidden files and folders). Cách khắc phục: Khi đã kích hoạt khả năng hiển thị tập tin và thư mục ẩn, bạn hãy tìm và xóa các tập tin Thumbs.db không cần đến. Nếu muốn các tập tin này không xuất hiện trở lại, bạn mở cửa sổ thư mục hoặc tiện ích Explorer bất kỳ rồi chọn Tools.Folder Options. Trong nhãn View, đánh dấu tùy chọn Do not cache thumbnails (Hình 3). Cuối cùng, nhấn OK để hoàn tất. TRÁNH HỖN LOẠN TRÌNH ĐƠN Triệu chứng: Khi thao tác với trình đơn Start trong mọi phiên bản Windows, nhiều khả năng bạn sẽ vô tình kéo các mục (biểu tượng) ra khỏi vị trí mặc định của chúng. Cách khắc phục: Bạn có thể tắt tính năng kéo và thả các mục trên trình đơn Start. Đầu tiên, bạn cần kiểm tra để bảo đảm các mục trong tất cả trình đơn đã được xếp theo đúng thứ tự mà bạn muốn. Sau đó, bạn nhấn phải chuột lên nút Start (trong Windows XP) hoặc thanh tác vụ (đối với các phiên bản Windows khác) và chọn Properties. Trong Windows XP, bạn nhấn vào nút Customize bên cạnh tùy chọn Start menu hoặc Classic Start menu. Tiếp đến, bỏ đánh dấu mục Enable dragging and dropping (có thể bạn phải nhấn Advanced để thấy tùy chọn này). Nhấn OK hai lần để kết thúc. LIÊT KÊ NHIỀU TÀI LIÊU
Triệu chúng: Trong phiên bản Windows XP Pro, bạn dễ dàng truy cập các tài liệu vừa mở bằng cách mở chọn Start.My Recent Documents (hoặc Start.Documents) nhưng danh sách này chỉ liệt kê được 15 tập tin gần nhất. Cách khắc phục: Nhấn Start.Run, gõ vào lệnh gpedit.msc và ấn . Trong khung cây bên trái, bạn di chuyển và chọn User Configuration\Administrative Templates\Windows Components\Windows Explorer. Nhấn đúp vào mục Maximum number documents trong khung cửa sổ bên phải. Tiếp đến, chọn Enable và sau đó đặt cho khóa Maximum number of recent documents một giá trị cao hơn con số 15 mặc định (Hình 4). Trong các phiên bản Windows khác (không phải XP Pro hoặc 2000), bạn phải trông cậy vào giải pháp “chắp vá” là tạo một biểu tượng shortcut trỏ đến thư mục “C:\Documents and Settings\username\Recent”, với username là tên tài khoản đăng nhập hệ thống. Triệu chứng: Mỗi hai tháng, Windows XP đưa ra thông báo cho biết bạn đã không sử dụng một số biểu tượng trên màn hình desktop trong một thời gian dài. Thậm chí hệ điều hành còn tỏ ý giúp cất các biểu tượng này vào một thư mục khác trên desktop. Cách khắc phục: Bạn cần biết rằng việc chuyển các biểu tượng trực quan trên màn hình Windows sang một thư mục khác chắn chắn sẽ làm người dùng mất “hứng thú” nhấn chuột vào chúng, nếu không nói là khá bất tiện để tìm một biểu tượng ở đâu đó. Nếu thực sự không còn nhu cầu sử dụng các biểu tượng này, hãy xóa chúng. Để tắt tính năng nhắc nhở dọn dẹp các biểu tượng không còn dùng đến, bạn nhấn chuột vào màn hình desktop và chọn Properties. Ở nhãn Desktop, nhấn Customize Desktop, và ở dưới cùng hộp thoại đó, bạn bỏ đánh dấu chọn mục Run Desktop Cleanup Wizard every 60 days rồi nhấn OK hai lần để kết thúc. |
TGVT
|
Giữ Windows luôn trẻ và khỏe mạnh top.document.title = ‘TGVT – ‘+’Giữ Windows luôn trẻ và khỏe mạnh’; |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
|
Mọi người đang bàn tán xôn xao về Vista nhưng nhiều người dùng Windows XP cảm thấy không cần thiết phải nâng cấp lên hệ điều hành này. Một chế độ bảo dưỡng thường xuyên – cộng với những lần kiểm tra đột xuất – sẽ giúp “chiến mã” XP của bạn luôn đạt đỉnh cao phong độ và đủ sức tung hoành trong nhiều năm nữa. Từ chối nâng cấp: Nếu thường xuyên sa đà vào việc nâng cấp lên phiên bản mới nhất cho các ứng dụng yêu thích trong khi quên nâng cấp phần cứng và Windows thì ắt hẳn máy tính của bạn sẽ ngày càng cũ kỹ và cọc cạch hơn. Thay vì lao theo chuỗi nâng cấp không bao giờ có phiên bản kết thúc, bạn hãy “bắt chết” một phiên bản nào đó cho các ứng dụng mà bạn nhận thấy (nó) hoạt động tốt với máy tính của mình.
Theo đó, bạn hãy xem xét đến việc tắt tính năng tự động cập nhật có trong nhiều trình ứng dụng hiện nay (ngoại trừ công cụ tường lửa, phòng chống virus và spyware). Ví dụ, trong Adobe Reader 7, để vô hiệu hóa tính năng tự động cập nhật, bạn nhấn Edit.Preferances.Updates, rồi chọn Do not automatically check for critical updates. Tại sao các nhà phát triển quyết định khi nào và như thế nào để cập nhật các ứng dụng của bạn? Nếu từng gặp một sự cố nào đó đối với một ứng dụng hoặc chỉ đơn thuần cần một tính năng mới, bạn hãy đến website của hãng sản xuất phần mềm và thủ công tải xuống bản nâng cấp mới. Mỗi ứng dụng “theo dõi” các bản nâng cấp bằng cách thức riêng của mình vì thế nên xem kỹ tài liệu của từng ứng dụng. Một công cụ miễn phí chẳng hạn như Startup Control Panel (find.pcworld.com/46260) sẽ giúp bạn loại bỏ các phần mềm hoạt động ở chế độ nền và liên tục kiểm tra các bản nâng cấp mới (Hình 1). Hoán đổi khi cần thiết: Windows đã khéo léo “thiết kế” một phần không gian trong đĩa cứng thành bộ nhớ ảo (còn gọi là swapfile hoặc pagefile) để hỗ trợ cho RAM. Hệ điều hành sẽ cung cấp vài phần của bộ nhớ ảo cho tất cả các quá trình đang chạy và tự bản thân bộ nhớ ảo sẽ được đưa vào sử dụng ngay khi RAM hệ thống đang “rỗi”. Tốc độ truy xuất đĩa cứng luôn chậm hơn tốc độ truy xuất RAM, vì thế nếu máy tính có thừa bộ nhớ thì bạn có thể cải thiện hiệu quả hoạt động lên chút ít bằng cách yêu cầu Windows không nên sử dụng bộ nhớ ảo cho vài tác vụ riêng cho đến khi tận dụng hết RAM hệ thống. Vậy dung lượng RAM hệ thống phải đạt mức nào để một máy tính được đánh giá là dư thừa bộ nhớ? Điều này phụ thuộc vào số lượng và chủng loại các ứng dụng mà bạn thường chạy trong máy tính, tuy nhiên bạn đừng thực hiện điều chỉnh này trừ phi hệ thống của bạn có ít nhất 1GB RAM. Để ép buộc Windows chỉ sử dụng bộ nhớ ảo khi không còn lựa chọn nào khác, bạn phải chỉnh sửa Windows Registry. Lưu ý, bạn cần sao lưu Registry trước khi thực hiện và Microsoft không khuyến khích người dùng loại bỏ hoàn toàn bộ nhớ ảo. Một khi đã có trong bản sao lưu Registry, bạn chọn Start.Run, gõ vào lệnh regedit, và ấn Enter. Trong khung cây bên trái, tìm và chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\Memory Management. Nhấn đúp lên biểu tượng Disable PagingExecutive trong khung bên phải và đổi giá trị trong hộp thoại Value data từ 0 thành 1, nhấn OK và khởi động lại máy tính.
Để biết thêm các thủ thuật tinh chỉnh bộ nhớ ảo, bạn cần tham khảo lại bài viết “Máy tính làm việc nhanh hơn” (ID: A0601_122). Làm việc với NTFS: Nếu vẫn còn sử dụng chuẩn FAT32 cũ rích cho đĩa cứng thì đây là thời điểm thích hợp để chuyển sang chuẩn NTFS. Ngoài ưu điểm nhanh và an toàn hơn, NTFS còn cho phép bạn truy xuất các tài liệu được mã hóa, thư mục, ổ đĩa nén và các tính năng ưu việt khác. Lý do duy nhất để sử dụng chuẩn FAT hay FAT32 là bạn cần truy xuất đĩa cứng từ DOS hoặc Windows 98. Đừng lo! Bạn có thể chuyển đổi sang chuẩn NTFS mà không cần định dạng (format) lại đĩa cứng và sắp xếp lại các ứng dụng cũng như dữ liệu từ bản sao lưu. Từ màn hình Windows XP, bạn chọn Start.Run, nhập vào lệnh cmd.exe, rồi ấn Enter. Trong cửa sở dòng lệnh, nhập vào lệnh convert , theo sau đó là một khoảng trắng, tên ổ đĩa, dấu hai chấm, một khoảng trắng nữa và sau cùng là /fs:ntfs. Ví dụ, để chuyển đổi ổ đĩa C sang NTFS, bạn nhập vào lệnh convert C: /fs:ntfs. Kiểm tra System Restore: Thực tế cho thấy tính năng System Restore đã cứu nguy cho rất nhiều người dùng Windows, vì thế bạn nên dành ra nhiều không gian đĩa cứng để lưu lại những cột mốc/điểm khôi phục hệ thống (restore point). Để điều chỉnh dung lượng đĩa cứng dành cho System Restore, bạn nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer và chọn Properties. Ở nhãn System Restore, chọn ổ đĩa có các thông số cài đặt cần thay đổi, nhấn Setting. Ở cửa sổ mới xuất hiện, di chuyển thanh trượt đến giá trị mong muốn và nhấn OK hai lần để kết thúc. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo bài viết “Windows Hacks: Registry Remedies” (find.pcworld.com/55350) để biết thêm cách chỉnh sửa các cài đặt trong System Restore. Chuyển chỗ các tập tin hệ thống: Các điểm khôi phục hệ thống của System Restore và những tập tin khác phải được lưu trên ổ đĩa cài đặt Windows. Tuy nhiên, nếu có nhiều đĩa cứng hoặc phân vùng, bạn có thể giải phóng không gian trên ổ đĩa chứa Windows bằng cách di chuyển các tập tin hệ thống khác sang một nơi khác (phân vùng hay ổ đĩa khác). Bạn có thể tham khảo cách thực hiện được trình bày trong bài viết “5 bước dọn dẹp Windows” (ID: A0310_113).
Từ bỏ chế độ ngủ đông: Bất kỳ lúc nào bạn sử dụng tính năng ngủ đông (Hibernate) của Windows để khởi động máy tính nhanh hơn, hệ điều hành sẽ đưa mọi thứ trên RAM vào một tập tin ẩn mang tên “hiberfil.sys”. Tập tin này có kích thước xấp xỉ dung lượng của RAM – ví dụ, 512MB đối với máy được trang bị RAM 512MB. Giống như dữ liệu của System Restore, tập tin này phải được lưu trên cùng ổ đĩa cài đặt Windows. Nếu ổ đĩa Windows hết chỗ và không còn nhu cầu sử dụng tính năng Hibernate nữa, bạn có thể tiết kiệm được đáng kể dung lượng đĩa cứng bằng cách tắt tính năng này và xóa tập tin hiberfil.sys. Để thực hiện, bạn chọn Start.Run, gõ vào lệnh powercfg.cpl, và ấn Enter. Nhấn chuột lên nhãn Hibernate, rồi bỏ chọn mục Enable hibernation (Hình 2). Nhấn OK để kết thúc. Vệ sinh đĩa cứng: Bạn hãy sử dụng công cụ Disk Cleanup của Windows để đảm bảo đĩa cứng luôn trong tình trạng sạch sẽ và ngăn nắp. Công cụ này cho phép bạn loại bỏ những rác rưởi không cần thiết trong khi vẫn giữ nguyên vẹn bộ nhớ trình duyệt (cache) để tối ưu tốc độ lướt web cùng với nhiều tính năng khác. Có một điều không may là công cụ Disk Cleanup thường bỏ sót một số tập tin tạm nhất định. Sau đây là tập tin thực thi (.bat) dùng để khắc phục khuyết điểm này: Bạn mở Notepad hay một tiện ích xử lý văn bản nào khác và nhập vào nội dung del /s /q “C:\Documents and Settings\Username\Local Settings\Temp\*.*”, với Username là tên đăng nhập của bạn và sửa lại tên ổ đĩa nếu cần. Sau đó, lưu tập tin này với tên deltemp.bat. Tiếp đến, bổ sung tập tin thực thi này vào thư mục Startup để xóa các tập tin tạm trong thư mục được chỉ định mỗi khi Windows khởi động. Dọn dẹp sao lưu: Bạn hãy đảm bảo đã thực hiện những tùy chọn nâng cao trong nhãn More Options của công cụ Disk Cleanup. Ví dụ, nhấn chuột lên nhãn More Options và bên dưới mục System Restore, bạn chọn Clean up để xóa tất cả điểm khôi phục hệ thống – trừ điểm mới nhất (Hình 3). WINDOWS SINH ĐỘNG HƠN
Khi Windows XP xuất hiện vào cuối năm 2000 thì chiếc iPod chỉ là một ý tưởng trong suy nghĩ của Steve Jobs (ông chủ hãng Apple). Từ đó đến nay, thế giới đã đón nhận hàng loạt phát minh về máy nghe nhạc di động, máy chụp ảnh kỹ thuật số và các thiết bị không dây. Bạn gần như chắc chắn muốn dành nhiều thời gian để làm việc trên máy tính hơn là để xem ảnh và phim, nghe nhạc. Sau đây là vài cách để nâng cao các tính năng giải trí đa phương tiện của Windows XP. Tránh tạo trùng lắp các bản nhạc: Sau khi nén (rip) các CD nhạc ở định dạng Windows Media Audio (WMA), bạn quyết định sử dụng một công cụ, như iTunes chẳng hạn, để kết nối với máy nghe nhạc di động của mình. Trong trường hợp này, việc chép các tập tin nhạc vào iTunes đồng nghĩa với việc chuyển chúng sang định dạng Advanced Audio Coding (AAC) và khi đó số lượng tập tin sẽ tăng lên gấp đôi – dung lượng trống của đĩa cứng sẽ giảm xuống. Để tiết kiệm đĩa cứng, bạn nên chọn một máy nghe nhạc duy nhất hoặc tối thiểu là một định dạng tập tin nhạc, như MP3 chẳng hạn – hầu hết máy nghe nhạc hỗ trợ định dạng này. Windows Media Player 10 và 11 có thể nén nhạc ở định dạng MP3 mà không cần đến phần mềm phụ trợ nào khác. Muốn lựa chọn định dạng nhạc để nén từ đĩa CD sang đĩa cứng, trong Windows Media Player, bạn chọn Tools.Options , nhấn chuột lên nhãn Rip Music và chọn định dạng tập tin cần thiết từ trình đơn thả xuống Format, nhấn OK (Hình 4). Quản lý hiệu quả bộ sưu tập: Người dùng thích sử dụng máy tính để thưởng thức âm nhạc sẽ sớm nhận ra mình có rất nhiều tập tin âm nhạc được tải xuống từ web hoặc nén lại từ CD và thật khó quản lý chúng! Nếu rơi vào tình huống tương tự, bạn hãy tham khảo bài viết “Kiểm soát hiệu quả tập tin và thực mục” (ID: A0506_138) để tìm cho mình một giải pháp thích hợp nhất.
Tạo một hệ thống giải trí thân thiện hơn: Cũng giống các tập tin âm nhạc, bạn có thể gặp nhiều gian nan để quản lý tốt các ảnh chụp được chuyển vào từ máy ảnh số của mình. Nếu đúng như vậy, bạn hãy đọc bài “Quản lý tập tin âm thanh và hình ảnh tốt hơn” (ID: A0306_107) để biết cách cải thiện khả năng quản lý hình ảnh của tiện ích Windows Explorer. Để biết nhiều hơn nữa về việc hiển thị ảnh, bạn nên tham khảo bài viết “Tiện ích xem ảnh của Windows và những tính năng ẩn” (ID: A0505_129). Lưu trữ ảnh trên mạng: Dĩ nhiên ai cũng muốn luôn mang theo bên mình những ảnh chụp quan trọng, nhưng với chút ít chi phí (hay thậm chí là miễn phí) bạn còn có thể lưu trữ và truy xuất bộ sưu tập ảnh của mình qua mạng, cũng như dễ dàng chia sẻ chúng với bạn bè. Các dịch vụ lưu trữ ảnh thông dụng có thể kể đến là Flickr (www.flickr.com), Picasa Web Albums của Google (picasaweb.google.com), Yahoo Photos (photos.yahoo.com) và Inbox.com. |
TGVT
Thiết lập hệ thống password an toàn
Giới thiệu
Hầu hết người dùng đăng nhập vào máy tính cá nhân cục bộ của họ hay các máy tính từ xa thường sử dụng kết hợp tên người dùng và một mật khẩu được nhập từ bàn phím. Mặc dù có nhiều kỹ thuật khác để thẩm định, như các thẻ thông minh, sinh trắc học, hay mật khẩu mật lần đăng nhập của các hệ điều hành, nhưng hầu hết các tổ chức vẫn phụ thuộc vào mật khẩu truyền thống và vẫn sẽ tiếp tục như vậy trong những năm tới đây. Vì vậy việc tìm ra một mật khẩu tốt và áp đặt biện pháp mật khẩu cho các máy tính là một vấn đề quan trọng và cần thiết nên làm ở các tổ chức. Một mật khẩu tốt phải là mật khẩu có một số lượng phức tạp nhất định – gồm có chiều dài và các loại ký tự – để làm cho password trở nên khó đoán hơn hơn trước kẻ tội phạm mật khẩu. Việc thiết lập một chính sách password tốt cho tổ chức của bạn có thể giúp ngăn cản kẻ tấn công đóng vai người dùng hợp pháp và bằng cách đó có thể ngăn chặn việc mất dữ liệu, lộ tin tức nhạy cảm. Trong bài viết này chúng tôi sẽ giải thích cho các bạn làm thế nào để thực thi một chính sách password trên các máy tính đang chạy các hệ điều hành Microsoft Windows 2000, Windows XP, và Windows Server 2003.
Phụ thuộc xem máy tính trong tổ chức là thành viên của lĩnh vực Active Directory, máy tính độc lập hay cả hai trường hợp để thực thi các chính sách password tốt, bạn phải thực hiện một hoặc hai nhiệm vụ dưới đây:
- Cấu hình các thiết lập chính sách mật khẩu trong Active Directory Domain.
- Cấu hình các thiết lập trên các máy tính đứng độc lập.
Khi đã cấu hình được các thiết lập password hợp lý thì người dùng trong tổ chức bạn sẽ có thể tạo các password mới thỏa mãn chiều dài và độ phức tạp và người dùng sẽ không thể thay đổi ngay lập tức các password mới của họ.
Chú ý: Tất cả các hướng dẫn từng bước cụ thể trong tài liệu này được phát triển bằng việc sử dụng menu Start mặc định khi cài hệ điều hành. Nếu bạn đã thay đổi menu Start thì các bước có thể sẽ khác chút ít.
Trước khi bắt đầu
Trước khi cầu hình thiết lập password trên máy tính trong mạng, bạn cần phải thấy được các thiết lập gì có liên quan đến, chỉ rõ giá trị sẽ sử dụng cho các thiết lập này, và hiểu Windows lưu các thiết lập cấu hình password ở đâu.
Lưu ý: Các hệ điều hành Windows 95, Windows 98, và Windows Millennium Edition không hỗ trợ các tính năng bảo mật nâng cao như thiết lập password. Nếu mạng của bạn gồm các máy tính đứng độc lập (máy tính không liên quan tới một tên miền) đang chạy các hệ điều hành này thì bạn sẽ không thể thiết lập chức năng mật khẩu này lên chúng. Nếu mạng gồm các máy tính đang chạy hệ điều hành này là thành viên của miền dịch vụ thư mục Active Directory thì bạn có thể thực thi các thiết lập password tại mức miền.
Nhận dạng thiết lập liên quan đến password
Với Windows 2000, Windows XP, và Windows Server 2003, có năm thiết lập mà bạn phải cấu hình liên quan đến các đặc tính password: Enforce password history, Maximum password age, Minimum password age, Minimum password length, và Passwords must meet complexity requirements.
- Enforce password history (lược sử) chỉ ra số các password mới mà một người dùng phải sử dụng trước khi một password cũ được dùng lại. Giá trị của thiết lập này có thể nằm trong khoảng 0 đến 24; nếu giá trị này được thiết lập là 0 thì enforce password history bị vô hiệu hóa. Với hầu hết các tổ chức thường thiết lập giá trị này là 24.
- Maximum password age (tuổi thọ tối đa) chỉ ra bao nhiêu ngày một password có thể được sử dụng trước khi người dùng bị yêu cầu thay đổi nó. Giá trị này nằm giữa 0 đến 99; nếu nó được thiết lập là 0 thì các password không bao giờ hết hiệu lực. Thiết lập giá trị này quá thấp có thể là nguyên nhân gây mất tác dụng cho người dùng; ngược lại giá trị này quá cao hoặc vô hiệu hóa chúng thì nó sẽ cho phép các kẻ tấn công có thêm thời gian để xác định các password. Với hầu hết các tổ chức, giá trị này được thiết lập là 42 ngày.
- Minimum password age (tuổi thọ tối thiểu) chỉ ra bao nhiêu ngày một người dùng phải giữ các password mới trước khi họ có thể thay đổi chúng. Thiết lập này được thiết kế để làm việc với thiết lập Enforce password history để người dùng không thể nhanh chóng thiết lập lại các password và sau đó thay đổi lại password cũ của họ. Giá trị của thiết lập này có thể từ 0 đến 999; nếu nó được thiết lập bằng 0 thì người dùng có thể thay đổi ngay lập tức các password mới. Chúng tôi khuyên bạn nên thiết lập giá trị này là 2 ngày.
- Minimum password length (chiều dài tối thiểu) chỉ ra độ dài tối thiểu của các password như thế nào. Mặc dù Windows 2000, Windows XP và Windows Server 2003 hỗ trợ các password có tới 28 kí tự nhưng giá trị của thiết lập này chỉ ở khoảng 0 đến 4 kí tự. Nếu được thiết lập là 0 thì người dùng được cho phép có các password trống, vì vậy bạn không nên sử dụng giá trị 0. Trong trường hợp này chúng tôi khuyên bạn nên dùng 8 kí tự.
- Passwords must meet complexity requirements (các yêu cầu về độ phức tạp) chỉ ra độ phức tạp của các password được yêu cầu như thế nào. Nếu thiết lập này được kích hoạt thì mật khẩu người dùng cần theo các yêu cầu dưới đây.
- Password phải dài ít nhất là 6 kí tự
- Password gồm các kí tự ít nhất cũng gồm có ba trong năm loại sau:
- Các kí tự chữ hoa trong bảng chữ cái (A-Z)
- Các kí tự chữ thường hoa trong bảng chữ cái (a-z)
- 10 chữ số cơ bản (0 – 9)
- Các ký tự đặc biệt (ví dụ: !, $, #, hoặc %)
- Các kí tự Unicode
- Các kí tự chữ hoa trong bảng chữ cái (A-Z)
- Các password không nhiều hơn ba kí tự có trong tên tài khoản người dùng. Nếu tên tài khoản ít hơn ba kí tự thì kiểm tra này sẽ không được thực hiện bởi vì tốc độ các password này sẽ bị loại bỏ quá cao. Khi việc kiểm tra sẽ coi một số kí tự như các dấu phân cách để phân chia tên thành các phần riêng biệt gồm: dấu phẩy, dấu chấm, gạch ngang/dấu nối, gạch chân, phím “space”, kí hiệu pound và các phím tab. Khi các phần đó dài hơn 3 kí tự thì chúng được tìm trong password; nếu nó xuất hiện thì password sẽ bị loại. Ví dụ: tên “Erin M. Hagens” sẽ bị phân chia thành ba phần: “Erin”, “M” và “Hagens”. Vì trong phần thứ hai có một kí tự nên nó bị bỏ qua. Vì vậy người dùng này không thể có một password gồm cả “erin” hay “hagens” như một chuỗi con ở bất kỳ đâu trong password. Tất cả các kiểm tra này rất nhạy cảm.
Những yêu cầu về độ phức tạp được bắt buộc đối với sự thay đổi password hoặc việc tạo mới chúng. Chúng tôi khuyên bạn nên cho phép thiết lập này.
- Password phải dài ít nhất là 6 kí tự
Tìm hiểu xem hệ điều hành Windows lưu thông tin cấu hình các thiết lập password như thế nào
Trước khi bạn thực hiện các chính sách password trong tổ chức, bạn nên tìm hiểu một ít về thông tin của cấu hình chính sách password được lưu như thế nào trong Windows 2000, Windows XP và Windows Server 2003. Điều này là cần thiết bởi vì các kỹ thuật lưu trữ chính sách password giới hạn số lượng của các chính sách password khác nhau mà bạn có thể thực hiện và tác động như thế nào.
Chúng có thể là một chính sách đơn giản đối với mỗi cơ sở dữ liệu tài khoản. Một miền Active Directory được xem như một cơ sở dữ liệu tài khoản đơn, nó như là một cơ sở dữ liệu tài khoản cục bộ đứng độc lập trong máy tính. Các máy tính là các thành viên của miền này cũng có một cơ sở dữ liệu tài khoản cục bộ nhưng hầu hết các tổ chức đã triển khai các miền Active Directory đều yêu cầu người dùng đăng nhập vào các máy tính của họ và mạng bằng sử dụng các tài khoản dựa trên miền. Do vậy nếu bạn chỉ định chiều dài password tối thiểu là 14 kí tự cho miền thì tất cả người dùng trong miền phải sử dụng password có nhiều hơn 14 kí tự. Để thiết lập các yêu cầu khác cho một số lượng người dùng cụ thể bạn phải tạo một miền mới cho các tài khoản của họ.
Các miền Active Directory sử dụng các đối tượng chính sách nhóm (Group Policy objects – GPO) để lưu một loạt những thông tin về cấu hình gồm có các thiết lập chính sách password. Mặc dù Active Directory là một dịch vụ thư mục có thứ bậc, chúng hỗ trợ nhiều lớp của các “đơn vị tính tổ chức” (OU) và nhiều GPO, thì các thiết lập chính sách password cho miền phải được định nghĩa trọng một “container” gốc cho miền. Khi bộ điều khiển miền đầu tiên được tạo cho một miền Active Directory mới sẽ có hai GPO được tạo ra một cách tự động: GPO chính sách miền mặc định và GPO chính sách điều khiển miền mặc định. Chính sách miền mặc định được liên kết với “container” gốc. Nó bao gồm một vài thiết lập miền rộng quan trọng trong đó có các thiết lập chính sách password mặc định. Chính sách điều khiển miền mặc định được liên kết đến các bộ điều khiển miền OU và gồm các thiết lập bảo mật ban đầu cho các bộ điều khiển miền.
Một giải pháp mang tính thực tiễn tốt nhất để tránh việc thay đổi các GPO kèm theo. Nếu bạn cần áp dụng các thiết lập chính sách password mà phân tán ra thành các thiết lập mặc định thì bạn nên tạo một GPO mới và liên kết nó tới “container” gốc hoặc đến bộ điều khiển miền OU và gán nó ở mức ưu tiên cao hơn GPO kèm theo: nếu có hai GPO mâu thuẫn với các thiết lập được liên kết đến “container” gốc thì GPO có mức ưu tiên cao sẽ được ưu tiên trước.
QTM
|
Khắc phục tình trạng đứt quãng khi nghe nhạc hay xem phim bằng Windows Media Player trên Windows XP |
|
Bạn đang gặp vấn đề khi chơi các file media? Lúc nghe nhạc hay bị đứt quãng hoặc khi xem phim hình luôn bị giựt, không liên tục. Vấn đề xảy ra có thể do các nguyên nhân sau: chưa chọn đúng độ phân giải màn hình hoặc trong lúc chơi media có một số chương trình nào đó đang chạy ngầm, làm máy tính phải xử lý cùng một lúc nhiều việc. Để khắc phục sự cố này, bạn có thể thực hiện theo các cách sau: 1- Thay đổi lại độ phân giải màn hình (khi xem phim): Bấm chuột phải vào desktop, chọn Properties, chọn thẻ Settings, kéo thanh trượt trong khung Screen resolution hay bấm nút Advanced, chọn thẻ Adapter, bấm nút List All Modes, chọn độ phân giải mà bạn muốn trong khung List of valid modes rồi bấm OK. Sau đó, bạn hãy thử chơi lại media, nếu còn gặp trục trặc thì hãy chọn lại độ phân giải khác như trên. 2- Chạy Windows Media Player ở chế độ ưu tiên: Nếu ở cách 1 mà bạn không giải quyết được vấn đề sau khi đã chọn hết các độ phân giải cần thiết thì có thể bạn đã gặp trường hợp thứ hai (máy tính đang xử lý nhiều công việc ngầm nào đó). Nếu như hiện tại bạn chưa thể đóng hết các công việc máy tính đang làm mà vẫn muốn chơi media tốt thì có thể thực hiện như sau: - Mở Notepad, sau đó nhập vào nội dung sau: start /AboveNormal C:\”Program Files”\”Windows Media Player”\wmplayer.exe %1 %*. - Lưu lại với tên file chẳng hạn là choimedia.bat. Sau đó bạn mở hộp thoại Folder Options (bấm Start > Settings > Control Panel, bấm kép Folder Options), chọn thẻ File Types. Chọn loại media mà bạn thường chơi trong khung Registered file types (MP3, DAT, AVI, MPG,…), bấm nút Change. Trong hộp thoại Open With, bấm nút Browse, chọn file mà bạn đã tạo ở trên, bấm OK, bấm Close. Lặp lại tương tự như trên cho các loại media khác. Sau này, bạn chỉ cần chạy file đã tạo ở trên (bạn có thể đưa ra desktop để dễ dùng), mở file media cần chơi hoặc bấm kép luôn vào file media để chạy là xong. |
TTO
Thay đổi biều tượng ổ đĩa và thư mục dễ dàng
|
Bạn hoàn toàn có thể thay đổi biểu tượng của ổ đĩa bằng cách chỉnh sửa registry. Tuy nhiên, có một cách đơn giản hơn rất nhiều đó là sử dụng phần mềm Folder icon changer. Bạn chỉ việc nhấp chuột và nhấp chuột, chỉ sau hai bước, ổ đĩa hoặc thư mục của bạn đã mang một biểu tượng mới. Cách sử dụng Bước 1
Trong bước này, bạn cần phải kiếm cho bằng được một biều tượng mà mình yêu thích. Nếu bạn đã có sẵn một biểu tượng, nhấp vào nút nằm ở mục “Get icons from a file” và chọn biểu tượng đó. Nếu không, bạn có thể nhờ chương trình kiếm hộ. Nhấp vào nút nằm ở mục “Search icons in a directory” để duyệt đến thư mục cần tìm biểu tượng. Chương trình sẽ liệt kê tất cả các biểu tượng có trong các tập tin thi hành hoặc các tập tin .ICO nằm trong thư mục đó. Bước 2 Nhấp nút Select để chọn ổ đĩa hoặc thư mục, tiếp theo nhấp Apply để chương trình thay đổi biểu tượng cho ổ đĩa hoặc thư mục vừa chọn. Nếu không muốn thay đổi nữa, nhấp Undo để đổi lại biểu tượng cũ. Bạn hãy mở lại My Computer mà xem, các biểu tượng ổ đĩa hoặc thư mục mã mang biểu tượng mà bạn yêu thích rồi đó. Chương trình có dung lượng 944 Kb và hoàn toàn miễn phí, tương thích với mọi phiên bản của hệ điều hành Windows, tải về tại đây. |
|||
| QTM | |||
Sử dụng Tracert
|
Tracert (hay Traceroute) là công cụ dựa trên nền tảng Windowns cho phép bạn hỗ trợ chương trình kiểm tra cơ sở hạ tầng mạng. Trong bài này chúng tôi giới thiệu cách dùng Tracert để sửa chữa các vấn đề gặp trong thực tế. Điều này giúp tăng cường tính hữu ích của công cụ và chỉ cho bạn một số cách dùng khi làm việc với các mạng riêng của mình. Tiện ích TCP/IP này cho phép bạn xác định các gói định hướng lưu chuyển trong toàn bộ mạng tới host cụ thể theo yêu cầu của bạn. Tracert hoạt động bằng cách tăng thêm giá trị “thời gian sống” (TTL) cho từng gói liên tiếp được gửi đi. Khi một gói đi qua một host, host này sẽ giảm TTL đi một giá trị và tiếp tục gửi nó sang host kế tiếp. Khi một gói có TTL đến được host cần tới, host sẽ loại bỏ gói và gửi thông báo thời gian ICMP quá hạn. Tracert nếu được dùng phù hợp và chính xác có thể giúp bạn tìm ra các điểm định tuyến không chính xác hoặc không tồn tại trong mạng của bạn. Giới thiệu về Tracert Tracert là công cụ dòng lệnh nền tảng Windowns dùng để xác định đường đi từ nguồn tới đích của một gói Giao thức mạng Internet (IP – Internet Protocol). Tracert tìm đường tới đích bằng cách gửi các thông báo Echo Request (yêu cầu báo hiệu lại) Internet Control Message Protocol (ICMP) tới từng đích. Sau mỗi lần gặp một đích, giá trị Time to Live (TTL), tức thời gian cần để gửi đi sẽ được tăng lên cho tới khi gặp đúng đích cần đến. Đường đi được xác định từ quá trình này. Nhìn vào hình minh hoạ sau bạn có thể hình dung ra được cách thức Tracert hoạt động trong một mạng sản xuất.
Sử dụng Tracert như thế nào Tracert hoạt động dựa vào thao tác với trường Time to Live (TTL). Bằng cách tăng TTL và sau mỗi lần gặp router, giá trị của nó lại giảm đi một, gói tin được gửi tới router tiếp theo. Mỗi lần gói tin được gửi từ router này đến router khác, người ta gọi là nó đã thực hiện một bước nhảy (hop). Khi trường TTL có giá trị trở về 0, router sẽ gửi thông báo “Time Exceeded” ICMP (hết thời gian) tới máy nguồn. Bạn có thể xem ví dụ với mạng mẫu sau của chúng tôi trong phần minh hoạ bên dưới. Với địa chỉ IP nguồn và đích,… chúng ta sẽ dùng trạm làm việc ở Site B và server bên Site A để thực hiện bài kiểm tra.
Từ minh hoạ này bạn có thể thấy, IP nguồn là 10.1.2.4 và IP đích (ví dụ) có thể là 10.1.1.6. Việc định tuyến thông thường diễn ra từ Site B sang Site A, qua liên kết có dung lượng cao hơn là T1 (1.544 Mbqs). Liên kết ISDN có dung lượng 128 Kbqs chỉ được dùng dự phòng trong trường hợp liên kết chính gặp lỗi. Tracert sẽ chỉ cho bạn thấy các gói tin được gửi từ Site B, tại máy có địa chỉ 10.1.2.4, qua liên kết T1 tới máy có địa chỉ 10.1.1.1. như thế nào. Bạn còn có thể biết được cách gửi các gói tin tới mạng LAN cục bộ (10.1.1.0) và cuối cùng là 10.1.1.6 như thế nào. Khi các gói tin đã được gửi đi, Tracert sẽ dùng giao diện đầu tiên trên router nó nhìn thấy để thông báo lại các bước nhảy router. Vì thế, hãy xem xét toàn bộ đường đi hoàn chỉnh của chúng ta trước khi gửi các gói tin đi.
Đường đi (được tô màu đỏ trên hình) là danh sách các router nằm giữa host nguồn và host đích. Một điểm rất quan trọng cần nhớ là các giao diện ở phía bên trái sẽ được dùng khi mô tả. Giao diện bên trái là giao diện của router gần nhất với host gửi tin trong đường đi. Trong ví dụ này bạn có thể thấy đường đi qua T1, từ phía B (Site B) sang phía A (Site A). Bây giờ chúng ta hãy cùng xem tại sao điều này lại quan trọng. Vậy các cách làm việc của tracert là gì? Khi khởi chạy và sử dụng, tracert sẽ báo cáo (in ra) danh sách đã được sắp xếp các địa chỉ của từng host mà nó đã đi qua trên đường đến đích. Điều này thực sự hay vì bạn có thể biết được nhiều hơn về đường đi này. Nếu bạn thu được phần gần mặt phân cách, bạn sẽ thấy một thiết lập mới của địa chỉ IP trong hình minh họa tiếp theo (192.168.10.1 và 192.168.11.1) 10.1 được sử dụng cho liên kết ISDN và 11.1 sử dụng cho liên kết T1. Vậy tại sao điều này lại quan trọng? Khi nhận được kết quả từ Tracert, một số người không thạo làm việc với công cụ này sẽ thấy lúng túng. Router cổng vào 10.1.1.1 mặc định của Site A được thay thế bằng địa chỉ WAN. Chỉ là một router nhưng giao diện khác. Điều này mang tính chất bắt buộc khi muốn kiểm tra với Tracert bởi vì nếu bạn nhầm, bạn sẽ không biết được mình đang đọc gì. Ví dụ, đường đi bạn thấy ở hình minh hoạ trên là từ 10.1.2.4 tới 10.1.2.1 (cổng vào mặc định của mạng LAN). Sau đó nó sẽ qua mạng WAN tới 10.1.1.1. Chỉ có một vấn đề xuất hiện ở đây là bạn sẽ không thấy địa chỉ xuất hiện. Sau khi T1 có giao diện trên router (11.1) của phía A (Site A) và thực hiện liên kết ISDN (10.1) thì hai địa chỉ IP này là quan trọng nhất trong kết quả trả ra của Tracert. Đó là do trong ví dục này T1 có thể bị lỗi và đường đi bây giờ là qua ISDN. Điều này hoạt động “như được công khai hoá”. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn để T1 online trở lại (trừ trường hợp bạn cảm thấy tốc độ mạng của mình tại T1 tụt từ 1.544 Mbqs xuống còn 128 Kbqs), bạn không nên dùng liên kết ISDN thêm phút nào nữa. Đó là điều chúng ta sẽ kiểm tra.
Kiểm tra Tracert Bây giờ, để dùng Tracert, đơn giản bạn chỉ cần mở màn hình lệnh Command Prompt. Để thực hiện điều này, bạn vào Start -> Run -> cmd -> tracert
Trong ví dụ sau, sau khi gõ lệnh “tracert” và xem phần thông tin hiển thị ra bạn có thể thấy các gói di chuyển qua hai router (như ở phần minh hoạ trên) rồi mới tới host đích 10.1.1.6. Ở đây, cổng vào mặc định từ Site B là 10.1.2.1 và địa chỉ IP của router trên mạng WAN qua các liên kết T1 và ISDN (lần lượt) là 192.168.11.1 và 192.168.10.1. Đầu tiên chúng ta hãy xem mọi việc diễn ra như thế nào khi dùng T1.
Bây giờ, nếu T1 bị lỗi và chuyển sang dùng ISDN, bạn sẽ thấy có một ‘đường đi’ khác và nó ‘dài hơn’ so với đường đi ban đầu.
Như bạn thấy, sử dụng tracert sẽ giúp bạn xác định rõ được đường dẫn mạng như nó hướng ra ngoài thông qua mạng và quan trọng nhất là làm thế nào để dữ liệu đi qua đường dẫn đó. Sử dụng các tuỳ chọn Tracert Để dùng Tracert, các bạn nên biết một số tuỳ chọn sau. Hữu ích nhất là tuỳ chọn đầu tiên “-d”. Nó được dùng khi bạn muốn loại bỏ giải pháp DNS. Các server name (tên máy chủ) cũng rất hữu ích, nhưng nếu nó không được thiết lập hoặc thiết lập sai, hay đơn giản là bạn chỉ muốn có địa chỉ IP của host, bạn nên dùng tuỳ chọn “-d”.
Sử dụng Tracert để gỡ rối như thế nào Có thể đôi khi phần thông tin hiển thị ra ngoài không rõ ràng khiến bạn không hiểu. Chẳng hạn như khi xuất hiện các dấu hoạ thị bạn sẽ làm gì? Như đã đề cập đến ở phần trên, dấu hoa thị có thể hiển thị sai, vì gói ICMP có thể đã được chuyển đến nơi nhưng có cái gì đó đã cản trở quá trình thông báo lại, thường là một nguyên tắc nào đó trong tường lửa hoặc danh sách điều khiển truy cập (Access Control List). Bạn có thể dùng Tracert để tìm ra chỗ gói tin bị ngừng lại trên mạng. Trong ví dụ sau, cổng mặc định đã tìm ra rằng không có đường đi nào hợp lệ ở bất kỳ host nào. Điều này có nghĩa là cả hai liên kết (T1 và ISDN) đều đã “sập” và không có đích nào có thể đến.
Từ ví dụ này bạn có thể thấy, khi bạn gửi yêu cầu kiểm tra Tracert tới địa chỉ 10.1.1.6, cổng LAN mặc định báo lại rằng nó không thể tìm thấy đường đi. Nhìn vào sơ đồ cụ thể sau có thể giúp bạn hiểu vấn đề rõ ràng hơn.
Bạn có thể thấy, không có đường đi nào cho gói tin. Router gần nguồn nhất thông báo rằng từ nguồn không có đường đi nào để tới các host khác. Chú ý quan trọng Dưới đây là một số chú ý quan trọng giúp bạn hiểu sâu hơn về Tracert.
Tóm tắt Trong bài này chúng tôi đã chuyển tới bạn khái niệm cơ bản về Tracert. Tracert (hay còn được biết đến là traceroute) là một công cụ dựa trên nền tảng Windowns, cho phép bạn hỗ trợ kiểm tra cơ sở hạ tầng mạng. Cụ thể trong bài chúng tôi hưỡng dẫn bạn cách dùng tracert để gỡ lỗi các vấn để xảy ra trong thực tế như đa đường đi hay các link không hoạt động. Điều này giúp tăng cường tính hữu ích của công cụ và chỉ cho bạn cách sử dụng khi làm việc với mạng riêng của mình. Tiện ích TCP/IP này cũng cho phép bạn xác định đường đi của các gói tin truyền qua mạng tới host cụ thể bạn chỉ định. Khi một gói tin đi qua một host, host sẽ giảm giá trị TTL của gói tin đi một giá trị và gửi tới host tiếp theo. Khi quá thời gian mà chưa đến đúng địa chỉ cần tìm, host nhận được gói tin sẽ loại bỏ và gửi lại thông báo thời gian quá hạn ICMP. Tracert nếu được dùng hợp lý có thể giúp bạn tìm ra các điểm trong mạng được định tuyến không chính xác hoặc không tồn tại. Tracert (hay traceroute) là công cụ bạn phải kiểm soát được nếu có kế hoạch làm việc trên mạng. Nó (và ping, pathping) có thể được dùng để giúp bạn ánh xạ và gỡ lỗi mạng dễ dàng. Các bạn nên tìm hiểu về các công cụ này kỹ hơn từ các bài tham khảo. |
|||||||||||
| QTM | |||||||||||






















